Mùa hè cuối cùng của những điều còn dang dở

Hè năm tôi mười bảy, tôi phát hiện ra mình không còn là một đứa trẻ nữa.

Không phải khi tôi nhận giấy báo trúng tuyển đại học. Cũng chẳng phải khi mẹ bảo tôi tự giặt lấy quần áo của mình. Mà là vào một buổi chiều tháng Bảy, khi tôi đứng trước căn nhà gỗ cũ kỹ ở cuối làng, nơi bà ngoại tôi đã sống suốt bảy mươi năm.

Bà mất vào mùa xuân. Mẹ bảo tôi lên dọn dẹp nhà cho bà trước khi người ta đến cải tạo lại khu đất này.

Tôi đẩy cánh cửa gỗ, kẽo kẹt. Mùi ẩm mốc, mùi hoa ngâu khô, và một thứ mùi gì đó rất cũ, rất quen, ùa ra đón tôi. Căn nhà vẫn y nguyên như hồi tôi còn bé, khi tóc bà còn đen, khi tôi còn ngủ trên chiếc võng kẽo kẹt sau hè, để bà phe phẩy quạt cho đỡ muỗi.

Tôi lần vào buồng trong. Trên chiếc bàn gỗ mun cũ, cạnh gối của bà, là một cuốn sổ bìa nâu đã ố vàng.

Tôi mở ra. Chữ bà nắn nót, run run.

“Tháng Giêng năm nay, thấy người yếu hơn hẳn. Chắc không qua khỏi mùa mưa này mất. Nhưng còn cháu. Thằng bé sắp thi đại học rồi. Không biết nó có đỗ không nhỉ?”

Tay tôi run lên. Tôi lật tiếp.

“Tháng Ba, hôm nay nó lên thăm. Nó cao hơn hẳn. Nó bảo thích học ở Sài Gòn. Tao không biết Sài Gòn ở đâu, nhưng nghe nói xa lắm. Tiếc là không thể sống đến lúc thấy nó vào đại học.”

“Nó đi rồi. Tao ngồi một mình cả buổi chiều. Thằng bé không biết là tao nhìn nó qua khung cửa suốt. Nó đi dép lê, tay cầm điện thoại, vừa đi vừa cười. Giống hệt hồi nhỏ nó cười với tao khi được ăn kẹo.”

“Tao giấu tiền dưới gối. Để dành cho nó. Mỗi tháng một ít. Nó học giỏi, nhưng nhà nó nghèo. Mẹ nó vất vả lắm. Tao chỉ mong nó có tiền mua sách, mua bút, đừng phải đi làm thêm mà ảnh hưởng tới học hành.”

Nước mắt tôi bắt đầu rơi xuống những trang giấy vàng khô.

“Tao ước gì được thấy nó mặc áo cử nhân. Nhưng mà chắc không kịp rồi. Thôi thì, tao sẽ nhìn nó từ trên ấy. Nhất định tao sẽ tìm được đường mà nhìn xuống.”

Tôi gấp cuốn sổ lại. Trong lòng tôi như có vật gì vỡ ra.

Tôi chạy ra góc giường, nhấc chiếc gối của bà lên. Bên dưới là một xấp tiền được bọc trong túi nilon, buộc chặt bằng dây thun. Toàn tiền lẻ, tiền mệnh giá nhỏ, nhưng xấp dày cộp. Những tờ tiền mồ hôi, những tờ tiền bà nhịn ăn sáng, nhịn uống nước chè mà để dành.

Tôi ôm xấp tiền vào lòng, khóc như chưa từng được khóc.

Bà ơi.

Cả buổi chiều hôm đó, tôi ngồi trong căn nhà vắng, đọc từng trang nhật ký. Tôi biết bà yếu thế nào, bà nhớ tôi ra sao, bà tự nhủ sẽ không khóc khi tôi đi, nhưng rồi vẫn khóc. Tôi biết bà đã ra ngõ bao nhiêu lần, ngóng xem có bóng thằng cháu nội nào trên con đường đất không. Tôi biết bà sợ nhất là cô đơn, nhưng chưa bao giờ bà kêu tôi ở lại.

“Cháu tao phải học. Phải đi. Đừng vì tao mà ở lại.”

Hoàng hôn buông xuống. Tôi ra sau nhà, nơi có cây khế già bà vẫn thường ngồi. Tôi nhặt một trái khế chín vàng rụng dưới gốc cây, bỏ vào túi.

Trên đường về, tôi không bật nhạc, không cười đùa như mọi khi. Tôi chỉ nghĩ về bà. Về những ngày tháng tôi đã lãng phí. Về những lần tôi lên thăm bà chỉ để ngồi chơi điện thoại, để bà một mình nấu cơm, một mình hỏi han, một mình nhìn tôi.

Tôi đã mười bảy tuổi. Và tôi vừa nhận ra: trưởng thành không phải khi bạn đủ mười tám, cũng không phải khi bạn vào đại học.

Trưởng thành là khi bạn nhận ra mình đã có những muộn màng không thể sửa. Là khi bạn hiểu rằng thời gian không chờ ai, và những người yêu thương bạn nhất sẽ không ở đó mãi.

Đêm đó, tôi viết một lá thư. Đặt cạnh xấp tiền bà để lại. Rồi tôi lên kế hoạch: thi đỗ đại học, làm thêm, tiết kiệm. Để một ngày không xa, tôi sẽ về thắp cho bà nén nhang, và nói với bà rằng:

Cháu đã lớn rồi, bà ạ. Và cháu nhớ bà.

Leave a Comment