Tôi thừa kế căn nhà của bà ngoại từ một người dì họ xa mặt. Căn nhà nằm cuối một con hẻm nhỏ ở Đà Lạt, tường rêu phong, mái ngói đã chuyển màu xám đen vì mưa. Dì bảo: “Nhà cửa cũ kỹ, nhưng không ai ở, phí. Cháu dọn về mà ở, đỡ tiền thuê trọ.”
Tôi là nhân viên văn phòng, cuộc sống tẻ nhạt, cô đơn ở Sài Gòn khiến tôi thèm một không gian yên tĩnh. Tôi nhận lời.
Những ngày đầu thật dễ chịu. Sáng nghe tiếng chim, chiều nhìn mây bay qua ô cửa sổ. Căn nhà rộng, đồ đạc cũ kỹ nhưng đẹp, toàn gỗ mít và gỗ cẩm. Phòng ngủ của tôi là phòng của bà ngoại ngày xưa, cạnh phòng khách, có một vách ngăn bằng gỗ áp sát tường.
Đêm thứ ba, tôi tỉnh giấc vì khát. Đồng hồ điểm hai giờ sáng. Tôi định với tay lấy cốc nước thì nghe thấy một tiếng động.
Cộc. Cộc. Cộc.
Tiếng gõ đều đặn, rất khẽ, như ai đó dùng đầu ngón tay gõ lên gỗ. Tôi nín thở lắng nghe. Tiếng gõ phát ra từ phía vách ngăn.
Chuột. Tôi tự trấn an. Nhà cũ, chắc chắn có chuột.
Nhưng đêm hôm sau, tôi lại tỉnh dậy đúng hai giờ. Lần này không phải tiếng gõ.
Mà là tiếng thì thầm.
Một giọng nói, rất nhỏ, rất xa, như từ bên kia bức tường vọng lại. Không thể nghe rõ lời, chỉ là những âm thanh rì rầm, trầm đục. Tôi áp tai vào vách gỗ lạnh toát. Im bặt.
Tôi tự nhủ là do tưởng tượng, do gió lùa qua khe cửa.
Rồi một đêm, tôi quyết định thức để kiểm chứng. Tôi ngồi trên giường, lưng dựa vào tường, mắt dán vào chiếc đồng hồ. Kim dần nhích qua một giờ, một rưỡi, hai giờ.
Và nó bắt đầu.
Cộc. Cộc. Cộc.
Tim tôi đập thình thịch. Tôi không dám nhúc nhích. Tiếng gõ dừng lại, nhường chỗ cho tiếng thì thầm. Lần này, nó rõ hơn. Tôi có thể nhận ra đó là giọng của một người đàn ông, khàn đặc, thì thào như sắp tắt thở:
“Mở… mở ra… cho tôi ra…“
Tôi chồm dậy, bật tung đèn. Mồ hôi lạnh túa ra khắp người. Căn phòng sáng choang, trống rỗng. Vách gỗ vẫn im lìm, lành lặn.
Sáng hôm sau, tôi gọi điện cho dì. Tôi cố giữ giọng bình thản: “Dì ơi, căn nhà này… hồi xưa bà ngoại ở một mình hả dì?”
Dì im lặng một lúc rồi nói: “Ừ, bà ở một mình. Nhưng mà… hồi trước giải phóng, căn nhà này có người ở thuê. Một gia đình. Người chồng là thợ mộc. Ổng đóng đồ đạc trong nhà, cũng đẹp lắm. Rồi ổng mất tích một cách bí ẩn. Người ta đồn là… ổng chết ngay trong nhà.”
Tôi hỏi: “Chết ở đâu?”
Dì trả lời, giọng hạ thấp xuống: “Thì… ngay chỗ phòng ngủ của bà mày đó. Hồi sau người ta phá lại, thấy vách gỗ đó có một cái hốc tường cũ. Người thợ mộc, người ta bảo ổng đang sửa đồ thì vách tường bất ngờ sập, ổng bị kẹt trong hốc tường. Không ai biết. Chờ tìm thấy thì ổng đã chết khô ở trong đó, tay còn cào rách cả gỗ.”
Tôi sững người nhìn về phía vách ngăn. Bàn tay tôi run lên khi chạm vào những đường vân gỗ. Những đường vân xoắn lại, có những chỗ lõm xuống, lởm chởm. Không phải vân gỗ tự nhiên.
Là những đường móng tay cào xé.
Đêm đó, tôi không dám ngủ trong phòng. Tôi ra phòng khách, bật hết đèn, ngồi co ro trên ghế. Đến hai giờ sáng, từ trong phòng ngủ, vọng ra tiếng thì thầm quen thuộc, nhưng lần này to hơn, rõ hơn, thảm thiết hơn:
“Mở ra… mày ở ngoài đó… mở cái vách này ra…“
Tôi bịt tai, nhắm nghiền mắt. Rồi tôi nghe thấy tiếng động khác. Tiếng bước chân lê lết trong phòng ngủ. Tiếng cửa phòng kẽo kẹt mở. Tôi mở mắt.
Cánh cửa phòng ngủ từ từ hé ra. Trong bóng tối sau cánh cửa, không có ai cả. Nhưng trên sàn nhà, từng vết chân ướt nhẹp, lần lượt in lên nền gạch hoa, tiến thẳng về phía tôi.
Tôi không thể hét lên. Tôi chỉ kịp co người lại khi những vết chân dừng ngay trước mặt, và một bàn tay lạnh ngắt, nhăn nheo, bám đầy mùn gỗ mục, từ phía sau ghế vươn ra, bịt chặt miệng tôi. Giọng nói khàn đặc thì thầm vào đúng tai tôi:
“Suỵt… đừng sợ… cảm ơn vì đã nghe tôi nói… lâu lắm rồi… nhưng mà tôi ra ngoài được rồi…“
Tôi cảm thấy hơi thở lạnh toát phả sau gáy, mùi gỗ mục và đất ẩm xộc vào mũi. Tôi không dám quay đầu.
Sáng nay, tôi viết những dòng này. Tôi đang ngồi ở quán cà phê đầu hẻm. Tôi sẽ không bao giờ quay lại căn nhà đó nữa.
Nhưng mà, lạ quá. Trong túi áo khoác tôi đang mặc, có một mảnh gỗ mục nhỏ xíu. Và suốt từ nãy đến giờ, lúc nào tôi cũng nghe thấy tiếng thì thầm, ngay bên tai.